Ba Người Thầy – Một Cánh Cửa

Một Đời Học Phật Ba Lần Gặp Duyên
(Từ 3 Thiện Tri Thức Đầu Đời đã gieo hạt đến cánh cửa Hoa Nghiêm)

Lời nói đầu:

Mùa báo hiếu năm nay đến với con (Phật tử Huệ Hương) trong một thời khắc thật đặc biệt.

Con vừa đi qua mười vị thiện tri thức đầu tiên trong phẩm Nhập Pháp Giới của Kinh Hoa Nghiêm.Và khi khép lại trang kinh, nhìn trở lại con đường đời mình, con chợt nhận ra một điều mà có lẽ trước đây con chưa từng gọi được thành tên:  Ba vị  ân  sư mà con đã  có đại duyên thân cận chính là ba thiện tri thức đầu đời của con.

Nếu Đức Vân dạy Thiện Tài biết phát khởi niềm tin, Hải Vân mở rộng tâm từ và Thiện Trụ dạy người học biết an trú trong một nền tảng vững chãi, thì trong cuộc đời con, ba vị cũng đã từng trao cho con những điều như thế — mỗi người một cách, mỗi người một thời điểm, nhưng đều âm thầm đặt xuống những viên đá đầu tiên cho con đường con đi đến hôm nay.

Trong không khí thiêng liêng và trầm lắng của mùa Vu Lan PL 2570 quay về… mùa của Tứ Trọng Ân, lòng con ngập tràn niềm tri ân hướng về nguồn cội, con xin chắp tay đảnh lễ ba Ngôi Báu và qua Thầy– những người đã cho con giới thân tuệ mạng, đặt những viên gạch đầu tiên cho chiếc kiềng ba chân Giới – Định – Tuệ trong tâm thức con.

Dù bước đi trên những chặng đường đời khác nhau, có đôi lúc con dại khờ lầm lũi tự học giữa thế giới hiện đại đầy biến động, nhưng lời dạy và hình bóng của các Thầy chưa bao giờ rời xa con.

Nay con xin dâng lời “Tri ân của một người học đạo” đến với quý Ngài
Kính trân trọng,

“Kính ngưỡng ba vị ân sư trân kính của con,
Kính bạch quý Ngài,

Trước khi khép  lại nhưng trang kinh về ba vị thiện tri thức đầu tiên về Thập Trụ, trong phẩm thứ 39 “Nhập Pháp Giới “của kinh Hoa Nghiêm Tập 4 do Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Việt dich, con bất chợt quay nhìn lại quá khứ những năm tu học và nhận ra rằng trước khi con gặp Hoa Nghiêm con đã được gặp ba Ngài: Ba vị thầy đầu đời mà con luôn trân kính.

Nếu cuộc đời là một hành trình dài, thì có lẽ những người thầy đầu tiên chính là những người đã trao cho ta chiếc la bàn trước khi ta biết mình sẽ đi về đâu.

Đối với con, quý Ngài chính là hiện thân của ba vị thiện tri thức đầu tiên trong phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, kính xin được bày tỏ như sau:

1. Vị thầy thứ nhất – Tỳ Kheo Đức Vân: người gieo hạt niềm tin. và đặt những bước chân đầu tiên của con trên con đường học Phật, để biết quay về với Pháp, biết kính trọng sự tu học và biết đặt chân lên con đường tìm kiếm. Đây là nguồn nước đầu tiên — gieo hạt Phật pháp . Tỳ Kheo Đức Vân trong cách đọc của con là khởi tín.

2. Vị thầy thứ hai —Tỳ Kheo Hải Vân: dòng sông mở rộng — nuôi dưỡng tâm và cách sống. Con đã học theo tinh thần Hải Vân ở phương diện mở rộng tầm nhìn và lòng người:Vị ấy giúp tôi biết rằng Phật pháp không chỉ là một điều để học, mà là một cách sống, một cách nhìn và một cách đối diện với cuộc đời.

Nếu vị thứ nhất là gieo hạt, thì vị thứ hai là làm cho cây có không gian để lớn.thì vị thầy thứ ba mở cho con một cánh cửa mới, để từ đó tôi gặp Hoa Nghiêm Và chính vị thứ ba là cây cầu — đưa con sang một bờ học thuật và tâm linh mới: Hoa Nghiêm. Có nghĩa là sau khi đã tìm kiếm, con người cần một nơi để an trú. Đối với con Hoa Nghiêm không phải điểm bắt đầu mà nó là một miền đất đến sau một hành trình đã được hai vị thầy đầu tiên chuẩn bị nền móng.

“Người gieo hạt không cần biết cây sẽ nở thành loài hoa nào.
Người mở cửa không cần đi cùng ta suốt con đường.
Nhưng nhờ họ, ta mới có ngày gặp được khu vườn của mình”.

Mỗi vị đến từ một truyền thống, một cách tu học và một thế giới tinh thần khác nhau. Nhưng nhìn lại hôm nay, con tự thấy mỗi vị đã trao cho con một điều mà con cần ở đúng thời điểm ấy. Vì thế, đối với con không phải là ba cách tu học cần đem ra so sánh mà là ba ân duyên nối tiếp nhau.

Phải thành thật nói rằng khi học đến 3 vị Tỳ Kheo Đức Vân, Hải Vân và Thiện Trụ, con bỗng thấy ba vị Thầy đầu đời của con bỗng hiện lên với một vẻ đẹp lạ thường .

Những điều ngày xưa con từng xem là bình thường, hôm nay nhìn lại đều trở thành những ân nghĩa rất lớn.

Nhân mùa báo hiếu này gửi đến ba Ngài lòng biết ơn sâu xa nhất. Nếu trong đời con có một chút niềm tin, xin nhớ đến người đã từng gieo hạt. Nếu trong đời con có một chút lòng thương, xin nhớ đến người đã từng mở lòng.Nếu trong đời con có một chút bình an giữa những biến động, xin nhớ đến người đã từng dạycon đứng vững.

Và nếu hôm nay con biết quay về nhìn lại tất cả bằng một tấm lòng biết ơn, thì con  hiểu rằng mình vẫn đang tiếp tục nhận lãnh những bài học từ Ba Vị Thầy kính quý.

Và trong mùa báo hiếu này, khi nghĩ đến quý Ngài con lại càng nhớ đến đấng sinh thành.

Nếu cha mẹ là cội nguồn của sự sống, thì những người thầy là những người giúp sự sống ấy biết tìm phương hướng.

Ơn cha mẹ đối với con không những cha mẹ thường được ví  như biển cả và núi cao: biển sâu đến mức không thể dò, núi cao đến mức không thể đo.

Núi cao vì đứng đó từ trước khi ta biết ngước nhìn.

Biển rộng vì dù ta đi bao xa, nguồn sống từ ấy vẫn âm thầm bao dung và chở che.

Nhưng có lẽ vẫn chưa đủ., mà phải gọi đó là mạch nguồn — một dòng nước đã chảy vào đời ta từ thuở ta chưa có khả năng gọi tên nó, chưa biết biết ơn, thậm chí chưa biết mình đang được yêu thương.

Đúng vậy :
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.

Đến khi trưởng thành, ngoảnh lại, ta mới hiểu:

Có những món nợ ân tình không phải để trả cho hết, mà để suốt đời biết cúi đầu trước hai chữ biết ơn.

Con nguyện được cúi lòng tri ân cả hai nguồn ân nghĩa đã làm nên con người con “Ơn sinh thành của cha mẹ và ơn khai mở của những người thầy”.

Một bên cho con sự sống. Một bên là cội nguồn

Một bên giúp con học cách sống. Một bên là ngọn đèn.

Vì vậy, trong mùa Vu Lan PL2570 này, con xin cúi đầu ghi ân tạc dạ cha mẹ — cội nguồn của sự sống — và tri ân ba vị thầy — những người đã giúp con hoc cách sống, học cách nhìn và cuối cùng tìm thấy con đường mà hôm nay con đang bước tiếp.

Kính chúc quý ân sư luôn an lành, mạnh khỏe và có thật nhiều niềm vui trên con đường mình đã chọn.

Lời Kết :

Xin cho mùa báo hiếu này không chỉ là mùa để chúng ta nhớ đến những người đã sinh thành mình, mà còn là mùa để nhận ra rằng: “trong cuộc đời mỗi người, luôn có những thiện tri thức đã đến, đã trao một điều gì đó rất quý, rồi lặng lẽ đi tiếp — để lại ánh sáng của họ ở trong ta”.Hãy đón nhận với tất cả lòng kính trọng và biết ơn.

Nhưng cũng kỳ duyên và hy hữu trên con đường ấy, về sau con còn gặp một số tư tưởng phương Tây: Con gặp Spinoza và học cách nhìn thực tại như một chỉnh thể rộng lớn hơn cái tôi riêng biệt. Con đã gặp Imamanuel Kant và bắt đầu chú ý đến chính người đang nhận thức thế giới. Rồi con lại đối thoại với Heidegger, và câu hỏi về cách một con người hiện hữu, sống và đối diện với chính đời mình trở nên sâu sắc hơn. Sự khai phóng từ giáo pháp của các Thầy lớn lao đến mức, khi con bước ra thế giới, tiếp cận với những bộ óc vĩ đại nhất của triết học phương Tây như Martin Heidegger, Baruch Spinoza, hay Immanuel Kant, con không hề thấy sự xa lạ.

Ngược lại, con bàng hoàng nhận ra tư tưởng về Sự hiện diện chân thật (Dasein) của Heidegger, Cái nhìn vĩnh cửu của Spinoza, hay Mệnh lệnh đạo đức tự thân của Kant thực chất chỉ là những cách diễn giải khác nhau cho ngọn đèn Giới – Định – Tuệ mà các Thầy đã thắp lên trong con.

Triết học phương Tây đã trở thành chiếc cầu nối hiện đại, giúp con đào sâu và càng thêm kính tin vào giá trị cốt tủy của Chánh pháp mà các Thầy truyền trao.

Hôm nay, con xin dâng lên các Thầy tấm lòng thành kính này, như một lời hứa sẽ luôn giữ vững Bồ-đề tâm, tri ân từng nghịch duyên hay thuận duyên trên lối về chân như., kính nguyện sẽ chứng nghiệm sống động nhất của Bồ-đề tâm qua phẩm nhập pháp giới này sẽ là đóa hoa sen đẹp nhất, ngát hương nhất mà con đang dâng lên mùa Báo hiếu năm nay.

Kính bạch quý Ngài,

Thế giới hiện đại ngày nay có quá nhiều biến động và cám dỗ, khiến những người mới học đạo như con đôi khi không tránh khỏi những lúc lấn cấn, hoang mang.

Nhưng chính nhờ những hạt giống Giới – Định – Tuệ mà quý Thầy đã từ bi gieo mầm, con đã tìm thấy chiếc neo vững chắc cho tâm hồn mình.
Khi con nhìn vào lối sống thực tế hôm nay, con nhận ra rằng:

Chữ Giới mà Thầy dạy, dẫu nghiêm cẩn, thực chất lại chính là đôi cánh tự do nhất giúp con đi lại tự tại giữa cõi đời như ngài Thiện Trụ bước đi trên hư không. Đó là “mệnh lệnh đạo đức tự thân” (như cách triết học của Kant hay Sartre diễn giải), giúp con tự chủ và không bị cuốn trôi trước những danh lợi bủa vây.

Chữ Định mà Thầy trao, chính là khả năng con quay về hiện hữu trọn vẹn trong từng phút giây (như tinh thần Dasein của Heidegger), neo tâm mình vào sự tỉnh thức của ngài Đức Vân, để giữa vạn dặm sóng xô của đời sống xô bồ, tâm con vẫn tìm được bến đỗ bình an.

Và chữ Tuệ của Thầy, đã mở toang tầm mắt con như ngài Hải Vân đứng trước đại dương, giúp con nhìn vạn pháp bằng cái nhìn bao dung, vĩnh cửu (như tư tưởng nhất nguyên của Spinoza). Con thấu hiểu hơn về quy luật trùng trùng duyên khởi, học cách chấp nhận và thương yêu cả những thuận duyên lẫn nghịch duyên trên cuộc đời.

Con hiểu rằng con đường cầu đạo còn rất dài, và mỗi vị Thầy xuất hiện trong đời con đều là một nhân duyên lớn lao.

Và con đường học kinh Hoa Nghiêm và nhập vào Pháp giới không phải ở chỗ đọc được bao nhiêu, biết được rộng thế nào, mà chính là ở những khoảng lặng tĩnh giác để tiêu hóa, đưa giáo pháp vào từng hơi thở và lối sống thực tế.

Con trân quý từng lời chỉ dạy, từng sự nghiêm khắc hay cả những khoảng lặng hờ hững của cuộc đời, vì tất cả đều là chất liệu nuôi dưỡng Bồ-đề tâm của con ngày một trưởng thành hơn.

Để gói trọn sự quyết tâm kiên định bước tiếp vào các cuộc gặp gỡ nhiều thiện tri thức khác nữa trong đời sống thường ngày và việc tu đạo nhân dịp Vu Lan PL 2570 này, con xin kính dâng lên quý Ngài những vần thơ từ đáy lòng con:

“Thuyền xuôi vạn dặm sóng xô,
Gập ghềnh đi giữa bến bờ đục trong.
Người quay lưng, bạn hững hờ,
Kinh văn ôm chặt, mịt mờ lối đi.
Ngẫm nhìn mỗi cuộc chia ly,
Vì sao phân biệt tu trì đổi thay
Kiềng ba chân dẫu chuyển lay,
Pháp thân tự tính xưa nay chẳng rời.
Bồ-đề tâm đã phát rồi,
Dù trăm nghìn hướng đổi dời chẳng phai.
Hoa Nghiêm một cõi lâu đài,
Trùng trùng duyên khởi, sá gì gió sương.
Mai này cất bước lên đường
Pháp giới vô tận, vẫn luôn ơn người.
Tâm thức chuyển hoá …mỉm cười.
Đường dài chân cứng…Thầy ơi trao truyền
Chân như ..thuận nghịch là duyên
Bồ-đề một hạt, tuệ liền từ bi
Nhấp nhô sóng động tâm tùy,
Trầm luân gặp Pháp ngại gì mai sau
Thân cận tri thức đường vào…
Chắp tay đảnh lễ, ngọt ngào tri ân.”

Nhân mùa Vu Lan PL 2570. con kính chúc quý Ngài pháp thể khinh an, tuệ đăng thường chiếu, luôn là bóng cây đại thụ che chở cho hàng hậu học chúng con trên vạn nẻo đường trần. Con xin chắp tay đảnh lễ quý Ngài với tất cả lòng tri ân sâu sắc nhất.,

Sydney 13/8/2026 nhằm ngày mùng một tháng 7 âm lịch năm Bính Ngọ
Phật tử Huệ Hương

___________________

Phụ lục :

Cây Cầu Ánh Sáng: Từ Triết Học Phương Tây Đến Pháp Giới Hoa Nghiêm

Khi đối diện với Kinh Hoa Nghiêm, người mới học thời đại số thường dễ bị choáng ngợp bởi thế giới của thần thông, của cung điện nguy nga và những vị Bồ Tát mang tầm vóc vũ trụ. Họ tự hỏi: “Làm sao những biểu tượng cổ xưa ấy có thể chữa lành cho tâm thức đầy lo âu và chia chẻ của con người hiện đại?”.

Và ngay cả những người đi trước, có lẽ ai bước đi trên con đường lớn của kinh Hoa Nghiêm cũng đều phải trải qua những dặm dài cô độc, đối diện với những nghi ngại của người xung quanh và cả những “cơn bướng” khởi lên từ chính nội tâm mình.

Và phải chăng câu trả lời nằm ở chỗ: Hoa Nghiêm không phải là thần thoại, mà là một bản đồ tâm linh thực tại.

Và điều kỳ diệu là, những đỉnh cao triết học phương Tây mà chúng ta hằng ngưỡng mộ chính là những “lối đi tắt” tuyệt đẹp dẫn thẳng vào bản đồ ấy.
Hãy tưởng tượng hành trình cầu đạo của Thiện Tài Đồng Tử qua mười vị Thầy của nhóm Thập Trụ giống như một cuộc tiến hóa tư tưởng của chính nhân loại, bạn nhé

Khi chúng ta mệt mỏi với sự tha hóa và đám đông ồn ã, hãy bước lên đỉnh núi Diệu Cao cùng Tỳ-kheo Đức Vân, đó cũng là lúc chúng ta cùng Heidegger rời bỏ phố thị để quay về với câu hỏi nguyên thủy về Tồn Tại.

Nhìn ra biển cả rộng lớn cùng Tỳ-kheo Hải Vân, chúng ta sẽ gặp tư tưởng của Spinoza để nhận ra vạn vật là một bản thể duy nhất.

Khi đó chúng ta sẽ muốn bay lên hư không bất động cùng Tỳ-kheo Thiện Trụ, triết học siêu nghiệm của Kant sẽ chỉ cho chúng ta thấy không-thời gian thực chất chỉ là cấu trúc của tâm thức.

Rồi khi trở lại vào đời, khi va chạm với trật tự xã hội hãy cùng Trưởng giả Di Già nhìn thấy nơi (thế giới Ý niệm của Plato), trước khi lặn sâu vào tầng vô thức cùng Trưởng giả Giải Thoát để thấy Phật tính vốn sẵn có trong mình như những mẫu hình nguyên thủy của Carl Jung.

Đó chưa phải là tất cả. Hoa Nghiêm không bắt chúng ta trốn chạy cuộc đời.

– Từ định lực sâu thẳm của Tỳ-kheo Hải Tràng, những vần thơ cứu rỗi của Rainier Maria Rilke được cất lên.

Và khi tìm gặp những bàn tay bố thí bất thoái giống Ưu-bà-di Hưu Xả, ta thấy hiện thân của nữ triết gia Simone Weil – người tự đóng đinh mình vào nỗi đau của tha nhân.

Để rồi, sau khi gột rửa tâm hồn trong cánh rừng nguyên thủy cùng Tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa (tinh thần Siêu việt của Thoreau), chúng ta dũng cảm đối diện với đỉnh cao của thử thách: nhảy vào hầm lửa đỏ của Bà-la-môn Thắng Nhiệt.

Đó chính là hành động dấn thân vượt qua sự “phi lý” của kiếp người mà Albert Camus từng ca ngợi, để rồi tái sinh viên mãn trong Cái Đẹp cứu rỗi và tinh thần hành động vị tha của Đồng nữ Từ Hạnh cùng đại văn hào Goethe.

Nhìn như thế, thế giới Hoa Nghiêm bỗng trở nên gần gũi vô cùng. Mỗi vị Thiện tri thức không còn là một pho tượng trên bệ thờ, mà là một người bạn đồng hành, một trạng thái tâm thức mà bất kỳ con người hiện đại nào cũng có thể trải nghiệm và đạt tới.

Hoa Nghiêm và Triết học phương Tây, hóa ra, chỉ là hai ngôn ngữ khác nhau cùng kể về một hành trình duy nhất:  hành trình thức tỉnh.

Và mời quý đạo hữu cùng người viết đi vào từng chi tiết trong những bài viết tiêp về sau nhé.

This entry was posted in Tư Liệu, Tùy Bút. Bookmark the permalink.