Của Phẩm Nhập Pháp Giới Trong Kinh Hoa Nghiêm
Cổ đức có câu: “Phát tâm Bồ-đề là thành Phật một nửa”. Kinh Hoa Nghiêm không nói về việc một người phàm phu dần dần phát tâm, mà nói về việc một khi cái Tâm Giác Ngộ (Bồ-đề tâm) đã được đánh thức, nó sẽ tự động dẫn dắt hành giả đi trọn vẹn con đường Bồ Tát đạo.
Nói cách khác, phát Bồ-đề tâm là điều kiện tiên quyết (tấm vé vào cửa) để bước vào thế giới Hoa Nghiêm.
Nếu không có Bồ-đề tâm, hành trình 53 vị Thiện tri thức sẽ không bao giờ bắt đầu.
A- Ý nghĩa triết học: Bồ-đề tâm là gốc, Lục độ là ngọn.
Sự chuyển biến từ “Phát tâm” sang “Tu Lục độ, Bát nhã” thể hiện một tiến trình tu tập rất thực tế:
Bồ-đề tâm là hạt giống, là động cơ. – Phát tâm bồ đề giống như việc xác định mục tiêu cuộc đời và bật định vị GPS.và Lục độ và Bát nhã là con đường và phương tiện: Khi đã bật GPS rồi, việc tiếp theo là phải đạp ga, lái xe qua các cung đường (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục…).
Nếu các vị thiện tri thức sau vẫn tiếp tục bảo Thiện Tài “hãy phát tâm đi” thì hành trình sẽ bị giậm chân tại chỗ. Do đó cần an trụ tâm và sau đó mới thực sự thực hành theo phương tiện quyền xảo.
Sự xuất hiện của Lục độ và Bát nhã ở các vị sau chính là câu trả lời cho câu hỏi: “Sau khi phát tâm Bồ-đề thì phải làm gì tiếp theo trong đời sống?”.
B— Bồ Đề Tâm theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm
– Bồ đề tâm nhắc nhở lý do vì sao mình đi vào con đường Bồ Tát Đạo : ngọn lửa phải luôn cháy sáng để trí tuệ hơn và từ bi hơn
– Phải luôn thân cận thiện tri thức, có khi chỉ một lời nói hay một hành vi của người đó lại thắp sáng bồ đề tâm của mình hơn cả năm cô độc 1 mình.
– Biến bồ đề tâm thành việc làm hằng ngày: Nếu chỉ phát nguyện mà không sống theo lời nguyện thì ngọn lửa sẽ yếu dần. Chỉ cần mỗi ngày thêm một việc thiện nhỏ ,một lần nhẫn nhịn, một lần học hỏi, một lần lắng nghe người khác, Bồ-đề tâm sẽ được nuôi dưỡng.
– Mỗi lần gặp một vị mới là một lần được khơi lại chí nguyện.
– Luôn nhớ tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Đây có lẽ là điều sâu nhất vì nếu chỉ nghĩ đến bản thân, Bồ-đề tâm rất dễ biến thành ý chí cá nhân.Nhưng khi nhìn thấy mỗi người đều đang khổ theo cách riêng của họ, lòng từ bi sẽ làm cho chí nguyện được mở rộng.“Nguyện cùng tất cả chúng sinh đi trên con đường giác ngộ.”
C- Cái nhìn Quyền xảo: Thiện Tài chính là đại diện cho “Bồ-đề tâm” của chúng ta.
Kinh Hoa Nghiêm dùng nghệ thuật nhân cách hóa (biểu tượng) rất cao: Thiện Tài (Tài sản tốt lành): Chính là ẩn dụ cho hạt giống Bồ-đề tâm. “Thiện Tài” nghĩa là người có vốn liếng công đức tối thượng. Vốn liếng đó chính là lòng từ bi muốn cứu độ chúng sinh và trí tuệ muốn thành Phật.
Hành trình đi qua các vị thiện tri thức là hành trình Bồ-đề tâm tự cọ xát với thực tế đời sống.
Bồ-đề tâm phải đi vào nhà trí thức, đi vào cung điện của vua, đi vào màn đêm của Dạ thần, thậm chí đi vào nơi u tối của ngoại đạo… để biến lý thuyết thành vạn hạnh viên mỹ.
Xin được tóm tắt bằng bài thơ về tầm quan trọng của Bồ-đề tâm – tấm vé khởi hành, nguồn năng lượng gốc trước khi bước vào con đường Bồ Tát hạnh:
GỐC ĐẠO NAM PHƯƠNG
Vạn dặm trùng khơi vạn dặm ngàn,
Phương Nam chân lý ánh dương tan.
Nếu không một niệm tâm bừng sáng,
Hỏi lối mười phương hướng nào sang?
Bồ-đề tâm khởi: ánh đèn đêm,
Vạch lối đi qua vạn thác ghềnh.
Năm mươi ba vị, nghìn phương tiện,
Có gốc tâm này, bước mới êm.
Không có gốc tâm, Lục độ suông,
Như thuyền không lái, lạc ngàn phương.
Bát-nhã dầu cao, đành bất động,
Hạnh nguyện làm sao rải nẻo đường?
Văn Thù thức tỉnh, vén màn sương,
Thiện Tài cất bước, dạ kiên cường.
Hạt giống bừng lên, ngời tự tánh,
Phổ Hiền vạn hạnh hóa hoa hương.
Nhưng cách phổ biến trong các bản lược giải của các vị tổ sư Hoa Nghiêm ở Đông Á lại là xem hành trình ấy tượng trưng cho 52 địa vị Bồ Tát (Ngũ thập nhị vị), nghĩa là: Thập Tín → Thập Trụ → Thập Hạnh → Thập Hồi Hướng → Thập Địa → Đẳng Giác, rồi viên mãn ở quả Phật.
Nếu nhìn theo hệ thống ấy thì Thiện Tài Đồng Tử không phải đi ngẫu nhiên từ vị này sang vị khác, mà là: mỗi thiện tri thức tượng trưng cho một tầng trưởng thành của Bồ Tát đạo giống như leo từng bậc của một ngọn núi.
Nói cách khác, Đức Vân không chỉ là Đức Vân, Hải Vân không chỉ là Hải Vân, mà còn tượng trưng cho những bước đầu của Thập Trụ. Rồi tiếp tục đến Thập Hạnh. Rồi Thập Hồi Hướng. Rồi Thập Địa. Đó là một cấu trúc rất chặt chẽ.
Theo luận giải của H T Thích Thắng Hoan đăng trên ww//Phật giáo.com ,
Ngài Văn Thù là vị tổng trì của các tâm trong thập tín khởi đầu từ Tín tâm Niệm TâmTinh tấn tâm Định Tâm Giới Tâm Hồi hướng Tâm Xã Tâm Nguyện Tâm.
Nếu chúng ta bắt đầu phẩm Nhập Pháp Giới trong kinh Hoa Nghiêm” thì đầu trang bắt đầu sẽ là:
Thiện tri thức số 1: Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi
Địa vị tượng trưng: Khởi đầu Thập Tín
Cốt tủy giáo pháp: Phát Bồ-đề tâm.
Bài học: Tin vào Phật tính nơi mình và nơi mọi người; lấy chí nguyện giác ngộ làm phương hướng suốt đời.
Và sau đó từ vị thiện tri thức thứ 2 là Hòa Thượng Đức Vân đến vị thiện tri thức thứ 11 Đồng Nữ Từ Hạnh là giai đoạn biểu trưng cho địa vị Thập Trụ.
Phải chăng đây là mức vạch chạm đến “bản đồ lộ trình” tinh vi nhất của Kinh Hoa Nghiêm.
Việc nhìn nhận 10 vị Thiện tri thức như một cây cầu liên tục là một tuệ giác rất lớn.
Vì 10 vị Thập Trụ còn được gọi là Thập Địa Trụ hoặc Thập Pháp Trụ gồm :
Sơ Phát Tâm-Trì Địa Trụ – Tu hành Trụ (ứng hành trụ )-Sinh quí Trụ – Phương tiện cụ Túc Trụ -Chính tâm Trụ -Bất thối Trụ -Đồng chân Trụ –Pháp vương Tử Trụ –Bổ Xứ Trụ hay Quán Đỉnh Trụ
Có lẽ để một người phát tâm ngày nay có thể học và ứng dụng lộ trình Thập Trụ này trong vòng vài năm (thay vì vạn kiếp), chúng ta cần phải hiểu theo lý “Sự Sự Vô Ngại” và “Nhất tức nhất thiết” (Một là tất cả) của Hoa Nghiêm. Nghĩa là: 10 giai đoạn này không phải là những bậc thang tách rời, mà là 10 mặt cục diện của một tâm thức tỉnh thức, phát triển tuần tự từ Gốc đến Ngọn.
Dưới đây là sơ đồ liên kết của “cây cầu” 10 vị Thiện tri thức (Thập Trụ) mà nhóm bạn có thể ứng dụng tu học hàng ngày:
[Phát Tâm] -> [Nền Tảng] -> [Hành Động] -> [Chuyển Hóa] -> [Cống Hiến]- [Thuần Thục] [Kế
(Vị 2) (Vị 3) (Vị 4) (Vị 5) (Vị 6) (vị 7)
Thừa [Tự Tại] [Trí Tuệ] [Chứng Ngộ] │
(Vị 8) (Vị 9) (Vị 10) (Vị 11)
Và bây giờ bắt đầu với Ba vị đầu tiên đặt nền móng của toàn bộ hành trình
– Vị thiện tri thức thứ 2: Tỳ Kheo Đức Vân
Theo lời chỉ dẫn của Đức Văn Thù về phía nam của rừng Thệ Đà có núi Diệu Phong nằm trong nước Thăng Lạc nơi cư ngụ của Ht Đức Vân.
Địa vị: Sơ Phát Tâm Thập Trụ. Đây là lúc Bồ-đề tâm vừa phát.
Pháp môn thành tựu : “Niệm Nhất thiết Chư Phật”- Quán Phật. Không phải chỉ lễ Phật. Mà là: đem tâm mình hướng về giác ngộ. Phật trở thành phương hướng của đời sống.
Biểu tượng: Ngọn núi. Người phát tâm phải vất vả leo núi. Nhìn cao. Không nhìn xuống.
Với ý nghĩa “Người mới phát tâm phải có một lý tưởng thật lớn”.
– Vị Thiện Tri Thức Thứ 3-Tỳ Kheo Hải Vân.
Hòa Thượng Đức Vân khuyên Thiện Tài Đồng Tử tiếp tục đi về hướng nam của núi Diệu Phong có nước Hải Môn, nơi Tỳ Kheo Hải Vân dùng đại hãi làm cảnh giới”
Địa vị: Trì Địa Trụ trong Thập Trụ.
Pháp môn thành tựu “Chư Đại Bồ Tát thâm nhập hạnh hãi “ Phổ Nhãn Pháp môn”
Với ngụ ý “Sau khi có lý tưởng, cần quán tâm rộng như biển để không còn cái tôi nhỏ hẹp”.
Biểu tượng–Biển.- Biển chứa mọi dòng nước.Tâm cũng chứa mọi hoàn cảnh, không phải sức mạnh mà là sức chứa.
– Vị Thiện Tri Thức Thứ 4: Tỳ Kheo Thiện Trụ
Hòa thượng Hải Vân khuyên Thện Tài đồng tử tiếp tục đi về phương Nam của nước Hải Môn độ 60 do tuần sẽ gặp một tụ lạc tên là Hải Ngạn nơi tỳ Kheo Thiện Trụ luôn đi kinh hành qua lại giữa các hư không/
Địa vị: Tu hành trụ hay còn gọi là Ứng Hành Trụ trong Thập Trụ.
Đã thành tựu Pháp môn;”Giải thoát Vô Ngại “vì có sức thần thông vô trụ, vô tác.
Với ý nghĩa: Không dao động.-Không bị ngoại cảnh kéo đi.-tâm bây giờ mới đứng vững.
Biểu tượng: Cây đại thụ. Gió đến. Không đổ.
Như vậy chỉ qua 3 vị trong thập trụ cho phép chúng ta ghép lại thành một tiến trình:
Ở Tỳ Kheo Đức Vân: ta học được một người tu dù có lý tưởng có phương hướng nhưng nếu không học theo hạnh của Ngài Đức Vân Ta vẫn có thể “Tu mãi mà không biết vì sao mình tu”.
Ở Tỳ Kheo Hải Vân: ta học được một người tu dù có mở rộng trái tim nhưng nếu không học hạnh Phổ Nhãn Pháp môn thì ta sẽ dễ trở thành người cố chấp.
Ở Tỳ Kheo Thiện Trụ cho thấy : người tu cần giữ vững nội tâm, mới có thể giải thoát vô ngại nếu không sẽ dễ dàng bỏ cuộc khi gặp nghịch cảnh.
Ba vị này không tách rời nhau. Đây là ba chân của một cái kiềng.
Và khi ứng dụng vào đời sống thực tại
Đức Vân dạy ta bao dung với chính mình.
Hải Vân dạy ta bao dung với thế gian.
Thiện Trụ sẽ dạy ta an trụ trong sự bao dung ấy, không còn dao động.
Ta gặp Đức Vân giữa tầng mây cao,
không để học cách bay,
mà để biết rằng đường giác ngộ rộng hơn điều mắt thấy.
Ta gặp Hải Vân bên bờ biển lớn,
không để đếm từng con sóng,
mà để học một trái tim
có thể đón nhận muôn dòng nước
mà vẫn giữ được vị mặn của mình.
Ta gặp Thiện Trụ
không phải để đứng yên,
mà để biết giữa muôn ngàn đổi thay
vẫn có một chí nguyện không lay động.
Ba vị, ba cánh cửa.
Một vị mở trí thấy.
Một vị mở lòng thương.
Một vị mở ý chí.
Từ đó, Giới không còn là hàng rào,
mà là dáng đứng.
Định không còn là im lặng,
mà là biển sâu không gợn.
Tuệ không còn là hiểu biết,
mà là ánh bình minh rọi lên từng bước chân.
Ta theo chân Thiện Tài đồng tử
cúi đầu cảm tạ ba người thầy đầu tiên.
Rồi lặng lẽ bước tiếp….
Không mang theo các Ngài.
Chỉ mang theo một đám mây,
một đại dương,và một ngọn núi
đã hóa thành chính trái tim mình.
Đến lúc ấy, ba vị thiện tri thức không còn đứng bên ngoài để ta ngưỡng vọng nữa, mà đã trở thành phẩm chất sống trong chính con người mình.
Bao dung không có nghĩa là đồng ý với tất cả.Bao dung là không để hận thù chiếm lấy trái tim.
Hơn thế nữa nếu chưa có bao dung, thì sự an trụ chỉ là sự gồng mình.
Do đó Hoa Nghiêm rất Thực Tế : Ngài Văn Thù không đưa Thiện Trụ lên trước. Ngài đặt Đức Vân và Hải Vân trước để trái tim được mở rộng.Khi trái tim rộng như mây và biển, thì mới có chỗ để “trụ”.Không phải trụ vào một giáo điều mà trụ trong tâm không còn hẹp Đó là ba bước đầu của người đi vào Pháp giới.
Đến đây có lẽ người tu sẽ tự hỏi làm sao có thể nuôi dưỡng lòng bao dung như tinh thần của Đức Vân và Hải Vân, để có thể bước sang Thiện Trụ?
Có lẽ Kinh muốn nhắn nhủ “Sau khi có tâm lượng rộng lớn, bạn phải Nhập Định”.
Và đây chính là chiếc cầu nối giữa ba vị thiện tri thức đầu tiên.
Mây chẳng trách đỉnh non cao,
Biển không hỏi suối từ đâu chảy về.
Người tu học cũng như thế,
Lấy lòng bao dung mở lối đi xa.
Hiền cùng chính trái tim ta,
Rộng cùng muôn nẻo gần xa nhân tình.
Đến khi tâm lặng như minh kính,
Thiện Trụ hiện bày giữa gió vô ngôn.
Đường Hoa Nghiêm chẳng vội hơn,
Một bước bao dung, một bước linh sơn.
Đi qua mây, đi qua biển,
Mới hay Pháp giới ở ngay chính lòng mình.
Vậy điều kiện tiên quyết và cốt lõi là : “Biển tâm phải lặng sóng thì tuệ giác mới sinh”.
Sự liên kết ở đây là: Từ tư duy rộng lớn (Vị 3) chuyển thành năng lượng định lực thực tế nội tâm (Vị 4).
Nếu ba vị đầu (Đức Vân – Hải Vân – Thiện Trụ) đặt nền cho Giới – Định – Tuệ, thì ba vị này lại dạy cách đem trí tuệ ấy đi vào cuộc đờ.i Ba vị thiện tri thức tiếp theo sau đây sẽ tạo thành một “tam giác” rất đẹp..
– Vị thiện tri thức thứ 5: Trưởng giả Di Già (Tứ Trụ – Sinh Quý Trụ):
Sau khi được chỉ dẫn đi về phương Nam của tụ lạc Hải Ngạn sẽ gặp một nước tên là Đạt Lý Tỹ Trà có tường thành tên là Tự Tại, Thiện Tài nên tìm gặp Vị trưởng giả Di Già.
Và Thiện tài đã tìm thấy Ông đang ngồi nơi chợ giảng pháp với 10 ngàn người nghe pháp.
Địa vị tu chứng : Phương tiện Cụ túc Trụ (Trụ thứ năm trong thập trụ )
Thành tựu pháp môn : “Diệu Âm Đà la Ni Quang Minh”có thể phân biệt ngữ ngôn của vô số thế giới từ tầng chúng sanh đến cõi đại thiên ‘
Cốt lõi thực hành của pháp môn này là: Rèn luyện tâm lắng nghe sâu ở tầng múc rốt ráo nhất.
Nhận xét : vị bồ tát ở bậc trụ này phải trang bị đầy đủ các công cụ để tương tác với vạn loại, mà âm thanh và ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp tối thượng và phổ biến nhất trong pháp giới.Khi ta rèn luyện với pháp môn của Trưởng giả Di Già ta sẽ chuyển hóa được từ một “người phản ứng với âm thanh” để trở thành một “người làm chủ âm thanh” (mọi âm thanh đi qua bộ lọc lắng nghe sâu đều trở thành chất liệu của lòng từ bi và trí tuệ) Đây là điệu dụng Tối Thượng của Cụ Túc Phương Tiện Trụ
– Vị Thiện Tri Thức Thứ 6: Trưởng Giả Giải Thoát-( Ngũ Trụ – Phương Tiện Cụ Túc Trụ):
Trưởng giả Di Già khuyên Thiện Tài đồng tử đi tiếp về phương nam nước Đạt Lý Tỹ Trà có một tụ lạc Trụ Lâm nơi trưởng giả Giải Thoát đang hành pháp .
Khi Thiện Tài đến cầu pháp ông trưởng giả đang nhập tam muội “ Vô Biên Triền Đà La Ni nhiếp khắp tt cả cõi Phật “ sau đó ông mới xuất tam muội.
Ngài cho biết đã thành tựu “ Vô Ngại Trang Nghiêm Giải Thoát của Như Lai” và cho biết tất cả Chư Phật được thấy đều do Tự Tâm , cho nên cần học hết thiện pháp để phò trợ cho các tự tâm này.
Vậy nên Tu là phải mong muốn làm sao được đồng thể với Chư Bồ Tát cũng như đồng thiện căn và đồng trí lực với chư Phật.
– Vị Thiện Tri Thức thứ 7-Tỳ kheo Hải Tràng-(Chánh Tâm Trụ )
Từ tụ lạc Trụ Lâm qua Phương Nam đến bờ Diêm Phù Đề có một nước tên là Ma Lợi Già La. Trong nước có 1 tỳ kheo tên là Hải Tràng. Thiện Tài gặp được Ngài Hải Tràng trong tư thế ngồi kiết già nhập tam muội , bặt hơi thở, lìa tư giác, thân tâm bất động. Thiện Tài quán sát đến 6 tháng 6 ngày, Tỳ kheo mới xuất tam muội. Và cho biết đã tu tập Bát Nhã Ba La Mật nên được tam muội “Phổ Nhãn xả đắc “hay còn gọi là “Phổ Trang Nghiêm thanh tịnh môn” hay còn gọi là” Bát Nhã Ba la Mật cảnh giới thanh tịnh trang nghiêm”.
Có lẽ vì thế mà Ngài được đặt vào vị trí Chánh Tâm Trụ vậy
Sau ba vị này, người học đến đây cách nhập pháp giới lại bắt đầu hiện rõ hơn thêm nữa: Hoa Nghiêm không chỉ là một bộ kinh để đọc, mà là một bản đồ của mọi kiểu người trên đường giác ngộ. Từ người xuất gia, cư sĩ, trưởng giả, vua chúa, phụ nữ, trẻ em… ai cũng có thể trở thành thiện tri thức nếu sống trọn vẹn pháp môn của mình.
Điều đó làm cho cuộc hành trình của Thiện Tài Đồng Tử ngày càng kỳ vĩ và gần gũi với cuộc sống của chính chúng ta.
-Trưởng giả Di Già Bố thí và dùng tài sản làm lợi ích chúng sinh Học cách làm chủ tiền bạc, không để tiền bạc làm chủ mình. Biến của cải thành phương tiện nuôi dưỡng trí tuệ và lòng từ.
-Trưởng giả Giải Thoát: Tâm giải thoát giữa đời sống thế tục Sống giữa công việc, gia đình, xã hội mà nội tâm không bị trói buộc bởi danh, lợi, hơn, thua. Ngài Giải Thoát xuất hiện để dạy cách “Làm tất cả nhưng không dính mắc vào đâu”.
– Tỳ kheo Hải Tràng:Tam muội sâu rộng như biển. Dù thế giới náo động, vẫn giữ được tâm bất động, sáng suốt và bao dung.
Theo thiển ý người viết ba vị này có một thông điệp rất hợp với người trí thức học đạo và sống cách thông minh trong thế kỷ XXI:“Có tiền nhưng không tham. Có việc làm nhưng không bị việc làm trói buộc-.Có trí tuệ nhưng vẫn giữ được tâm an tĩnh.” Đó là ba bài học vô cùng thực tế. “Không rời cuộc đời mà vẫn thành tựu đạo.” Ba vị này đều chứng minh điều ấy.:Trưởng giả vẫn là trưởng giả.- Cư sĩ vẫn sống giữa chợ đời.- Tỳ kheo vẫn nhập định. Mỗi người ở một hoàn cảnh khác nhau nhưng đều đi về Phật trí. Hoa Nghiêm không bắt mọi người phải giống nhau; Hoa Nghiêm chỉ yêu cầu ở đúng vị trí của mình mà giác ngộ.
Đến đây ta lại học thêm: Từ sự kiên định hướng về tâm bồ đề ta sẽ mang tĩnh lặng di vào cuộc đời bằng những phương tiện để ứng dụng vào việc chữa lành cho gia đình xã hội .
– Vị Thiện Tri thức thứ 8 Ưu Bà Di Hưu Xã (Thất Trụ – Bất Thoái Trụ)
Bối cảnh trong kinh :Từ nước Ma Lợi Gìa La về phía Nam có nước Hải Triều có khu lâm viên tên Phôt Trang Nghiêm và trong đó có Ưu Bà Di Hưu Xã đang trú ngụ . Được biết khu lâm viên này đâu đau cũng toàn bảo bửu bao bọc vì Ưu bà Di Hưu Xã đã gieo trồng 36 ức hàng sa Phật trong vô lượng kiếp
Pháp môn thành tựu của bà ” Ly Ưu An Ổn Tràng “, người nào khi gặp bà phải phát tâm vô thượng bồ đề thì luôn luôn được Phật gia bị
– Vị Thiện Tri Thức thứ 9 – Tiên Nhơn Tỳ Mục Cù Sa –(Bát Trụ Đồng Chơn Trụ)
Khi bạn đã có năng lượng bình an Tâm thức trở nên trong sáng, thuần khiết như một đứa trẻ nhưng chứa đựng trí tuệ kiên cố. Có nghĩa là sự bình an trong tâm đúc kết thành một khối tâm linh vững chắc, ngây thơ nhưng thấu suốt.
Kinh văn :Về Phương Nam của nước Hải Triều có một nước tên là Na La Tổ có tiên nhơn tên Tỳ Mục Cù Sa đang trú ngụ trong một khu rừng vô số cây trang nghiêm và trái ma ni đầy khắp và Thiện Tài nhìn thấy Ngài trải cỏ giảng pháp cho hàng nghìn người mực áo da nai hoặc vỏ cây
Thành tựu Pháp môn “Bồ Tát Vô Thắng Tràng Giải Thoát “ tự tại trong mọi thời gian và trong một niệm xuất sanh vô lượng chư Phật có thể phân thân đi qua khắp tất cả 10 phương . Đó là có trí tuệ và đạo đức thì sống nơi đâu cũng là một tiên nhơn bên ngoài.
– Vị thiện tri thức thứ 10- Bà la môn Thắng Nhiệt ( Cửu Trụ -Pháp vương Tử Trụ )
Khi đã làm chủ được sự giải thoát trong hành động, hành giả đạt đến trạng thái Kiên định, không bao giờ thối chí trước nghịch cảnh.
Kinh văn : Về phương Nam của nước Na La Tổ có 1 tụ lạc tên là Y Sa Na có Bà La Môn tên là Thắng Nhiệt, thườnh tu những khổ hạnh như dùng 5 lửa đốt thân đểrời bỏ dục lạc,từ núi đao nhảy vào lử để thân vừa chạm liền được an ổn khoái lạc và chúng sanh liền phát bồ đề tâm.
Đến đây ta hiểu được ý nghĩa biểu tượng được dùng “Thắng” là vượt qua, chiến thắng; “Nhiệt” là sức nóng, ngọn lửa ngùn ngụt, hay rộng hơn là sự thiêu đốt của phiền não, dục vọng và khổ đau. Thắng Nhiệt nghĩa là người chiến thắng và làm chủ sức nóng. Ngài thị hiện dưới hình tướng một đạo sĩ Bà-la-môn tu khổ hạnh. (một hành giả đã thuần thục định lực, có khả năng đi thẳng vào trung tâm của lò lửa khổ đau, dùng “sức nóng” của lò lửa đó để rèn luyện tâm thức chứ không bị nó thiêu rụi).
Bà-la-môn Thắng Nhiệt bảo Thiện Tài: “Này thiện nam tử! Nếu ngươi muốn đắc pháp, hãy trèo lên núi đao này và nhảy xuống hầm lửa kia!” Lúc đó, Thiện Tài liền khởi tâm nghi ngờ: “Phải chăng đây là ma quỷ giả dạng để hại mình? Phật pháp vốn từ bi, sao lại có lối tu hành tàn khốc như vậy?” [3]
Ngay lập tức, chư Thiên trên hư không đã xuất hiện và nhắc nhở Thiện Tài để giải tỏa mối nghi. Khi Thiện Tài dũng cảm bước lên núi đao và gieo mình vào hầm lửa theo lời dạy, ngài liền ngộ ra bản chất của pháp môn Vô Tận Luân :Khi vừa chạm vào núi đao: Núi đao liền biến thành tòa hoa sen báu êm ái.
Khi vừa rơi vào hầm lửa: Hầm lửa bừng cháy lập tức biến thành một thế giới mát mẻ, an lạc lạ thường.
*Pháp môn thành tựu là Bồ tát Vô Tận luân giải thoát“ . Vượt qua nỗi sợ hãi sinh tử thông qua sự tôi luyện bằng lửa.
Nhận xét Pháp môn của Bà-la-môn Thắng Nhiệt mang tính biểu tượng vĩ đại cho tiến trình chuyển hóa tâm thức Bản chất của Núi Đao và Hầm Lửa: Đao và lửa chính là biểu tượng của tam độc (Tham – Sân – Si) và những nghịch cảnh khốc liệt nhất của cuộc đời. Lửa sân hận thiêu đốt tâm can, dao găm của sự ích kỷ làm tổn thương chính mình và người khác.
Sự chuyển hóa từ thái độ: Khi ta nhìn nhận khổ đau bằng tâm lý trốn chạy hay sợ hãi, khổ đau sẽ là hầm lửa thiêu cháy ta. Nhưng khi ta đối mặt bằng Bồ-đề tâm kiên cố coi mọi thử thách chỉ là chất liệu để rèn luyện), thì ngay trong lò lửa của cuộc đời, tâm ta lại mát mẻ như đang ở trong ao sen.
– Thiện tri thức thứ 11 Đồng Nữ Từ Hạnh (Thập Trụ Trụ – Quán đỉnh Trụ )
Từ tâm thức thuần khiết hành giả toàn diện hóa cả Phước và Huệ, trở thành người kế thừa vương vị Chánh pháp, “Tướng tùy tâm hiện” trang nghiêm pháp giới.
Từ Hạnh là biểu tượng của một vị Bồ Tát đã chứng ngộ viên mãn, dùng thần thông nhậm vận tự tại để hiện thực hóa pháp giới.
Bối cảnh trong kinh: Về phuong Nam của tụ lạc Y Sa Na là 1 thành tên là Sư Tử Phấn Tấn, có một đồng nữ tên là Từ Hạnh Đồng Nữ là con gái vua Sư Tử Tràng ơt điện Tỳ Lô Giá Na tạng đang ngồi trên tòa Long Thắng Chiên Đàn Túc Kim Tiền Võng thiên Y mà thuyết diệu pháp. Được biết Đồng Nữ Từ Hạnh là đồng chơn từ thuở nhỏ đã sống thuần với Đạo không vị cuộc đời ô nhiểm.
Vương cung cô ngụ đầy đủ lưu ly xa cù và Gương mặt Cô da màu huyết kim , mắt tím tóc xanh biết lời nói ra đầy phạm hạnh.
*Pháp môn thành tựu :”Bát Nhã Ba La Mật Phổ Trang Nghiêm” Từ năng lực trí tuệ bát nhã này, Ngài biến hiện ra vô lượng biểu tượng đẹp đẽ để lợi lạc chúng sinh, biểu thị cho việc “từ Trí sanh Bi”, ở trong cõi đời ô nhiễm mà không bị nhiễm.Từ đây cho thấy Hoa Nghiêm dùng hình ảnh cô bé (đồng nữ) để biểu thị cho sự thanh khiết, trong sáng không còn tập khí nhiễm đắm của thế gian nhưng lại có dung lượng dung chứa vạn pháp.
Lời kết
Nếu khép lại chặng Thập Trụ sau khi đã đi qua mười vị thiện tri thức tiêu biểu, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là tổng kết xem ta đã “học được bao nhiêu pháp”, mà là nhận ra mười vị ấy đã làm một việc rất âm thầm: dựng lại một con người bên trong.của người học đạo.
Thập Trụ có thể được nhìn như mười lần tâm tìm được một chỗ đứng mới.
– Từ Đức Vân, học cách hướng tâm về một ánh sáng không còn phụ thuộc vào cảnh đời.
– Qua Hải Vân, lòng từ bắt đầu có chiều sâu: không phải thương người vì họ đáng thương, mà vì thấy mình và người vốn không thật sự tách rời.
– Đến Thiện Trụ, học đứng yên giữa những biến động của thế gian — không phải bằng sự lạnh lùng, mà bằng một nền tảng nội tâm vững chắc.
– Qua Di Già, trí tuệ bước ra khỏi sự trừu tượng và đi vào đời sống: cái cao cả phải có khả năng hiện diện giữa con người.
– Đến Giải Thoát, ta bắt đầu nhìn thấy chính Tâm: bao nhiêu cảnh giới tưởng ở bên ngoài, rốt cuộc đều có một cánh cửa quay về bên trong.
-Hải Tràng đưa ta từ sự hiểu biết sang sức mạnh hành trì.
– Ưu Bà Đi Hưu Xã nhắc rằng con đường không chỉ dành cho những người sống trong đạo tràng; ngay giữa đời thường, một con người vẫn có thể biến đời sống thành đạo tràng.
– Tiên Nhân Tỳ Mục Cù Sa làm ta nhận ra vẻ đẹp của một đời sống có kỷ luật, có phẩm cách, có sự trong sáng của thân tâm.
– Bà-la-môn Thắng Nhiệt lại đưa ta đến một cửa rất lạ: phải đi xuyên qua những điều nghịch ý, những nghịch lý, những ngọn lửa của đời sống mà không để tâm bị thiêu đốt.
Và Đồng nữ Từ Hạnh dường như khép lại Thập Trụ bằng một điều rất tinh tế:
Cảnh không còn chỉ là cảnh.
Cảnh bắt đầu trở thành tướng của tâm.
Người học Đạo bây giờ nhìn con người kỹ hơn, thấy nhiều điều phi lý hơn, thấy những ham muốn, tranh chấp, mê lầm của thế gian rõ hơn. Và ngọn lửa ban đầu có thể nguội xuống, lắng xuống vì đã thấy sâu hơn
Có thể nói Bồ Đề Tâm đã trưởng thành mà đôi khi không còn giống một ngọn lử nhưng giống một than hồng nằm sâu dưới tro. Không rực rỡ không cần ai nhìn thấy nhưng vẫn còn nóng.
Cùng Thiện Tài mười lần bước qua cửa,
mười lần tưởng đã hiểu một điều,
rồi lại gặp chính mình đứng lặng bên kia.
Đức Vân trao một ngọn đên để cuối cùng
Gặp Từ Hạnh đứng đó,
nhẹ như một bóng chiều,
không nói rằng cảnh là tâm —
chỉ để ta tự nhìn theo.
Mười vị đi qua rồi,
mà con đường chưa khép lại.
Nguyện chỉ xin giữ một đốm than
không tắt trong chính lòng mình.
Nếu con đường đã trao cho, thì cứ đi.
Không vội không than.
Không cầu một vầng hào quang ở cuối đường.
Chỉ lặng lẽ hoàn thành điều mà tâm đã từng nguyện.
Mười Trụ khép lại nhưng hành giả
mới bắt đầu biết đứng yên.
Và dưới lớp tro tưởng đã nguội ấy,
một đốm sáng rất nhỏ vẫn còn đó —
không cháy cho mình,
mà đủ để soi đường
cho một người đi sau.
Kính trân trọng,
Huệ Hương




Users Today : 48
This Month : 14513
Total Users : 564693
Views Today : 76
Total views : 3278294