Có cần phải có nhân duyên sâu dày mới vào cửa được với các bộ kinh Đại Thừa ?.
Từ lâu khi bước vào Đạo người viết thường được nghe các Thầy khen người này là một Phật Tử thuần thành, có căn cơ tốt nên người viết đã từng nghĩ căn cơ là hạt giống mang từ một đời xa lắc, ai có thì bước vào cửa Pháp nhẹ nhàng, ai không có dẫu đứng trước bộ kinh nào của Nguyên thủy như Kinh Trung Bộ hoặc Tiểu bộ ( Pháp Cú) chứ đừng nói đến những bộ kinh lớn của Đại thừa như Lăng Nghiêm, Kim Cang cho đến Hoa Nghiêm vì có học đến đâu cũng chỉ nhìn thấy muôn trùng chữ nghĩa.
Kính thưa quý đạo hữu,
Sau đó người viết tự hỏi mình có hiểu lầm về hai chữ CĂN CƠ không vì mỗi khi nghe ai nói “người này có căn cơ”, mỗi khi được nghe một nhận xét về những biểu hiện mà một người đã bộc lộ qua quá trình học và tu; nhất là khi nghe ai ai cũng công nhận người ấy có năng lực đặc biệt trong việc tiếp nhận Pháp.
Thì người viết đã vội tìm nơi quá khứ một câu trả lời cho chính mình: “Ta thuộc căn cơ nào?”, “Ta có đủ duyên với Đại thừa chăng?” và vô tình biến một chữ căn thành một cái ngã.
Nhưng trộm nghĩ hai chữ “Căn Cơ” đó không nhất thiết là một lời phán quyết về bản chất hay “hạng” của một người và thay vì nghĩ: “Họ sinh ra đã có căn cơ, có lẽ chúng ta nên nghĩ thoáng và nhìn rộng hơn như sau: “Có thể họ có những duyên lành từ trước, nhưng điều đang làm những duyên ấy trở thành năng lực hôm nay chính là một quá trình tiệm tu lâu dài”. Đây cũng là chỗ nhân và duyên gặp nhau.
Vì thế: “Đừng quá vội tin người khác khi họ phân loại căn cơ của một người; hãy nhìn xem người ấy đã sống như thế nào với những gì họ học”. Và có khi ngay cả nhìn thấy một người thật sự có năng lực tu tập sâu, chúng ta cũng đừng vội biến “căn cơ” ấy thành một bản chất cố định của họ.
Rồi một ngày với sự đam mê học hỏi và sưu tầm nghiên cứu người viết chợt hiểu ra: “Hạt giống chỉ là hạt giống. Nếu không có đất, không có mưa, không có bàn tay âm thầm vun xới, thì hạt giống vẫn mãi nằm yên trong lòng đất”.
Do vậy Căn cơ không chỉ là cái ta mang đến từ hôm qua, mà còn là cách ta sống hôm nay.
Gặp thuận duyên — không đắm say trong cái được. Gặp nghịch duyên — không vội trách người.
Biết mình sai — dám quay về. Được người khen — không vội dựng tượng cho mình.
Thấy người khác khổ — biết thương, nhưng không cần làm vị cứu tinh.
Do vậy có thể nói là đất đang tốt lên.
Cũng thế do nhiều năm được nghe pháp và trình pháp người viết cũng hiểu thêm một điều:
– Một người nói được về vô ngã chưa chắc đã bớt chấp ngã.
– Một người tuy giảng được Hoa Nghiêm chưa chắc đã thấy trùng trùng duyên khởi.
– Và một người được gọi là “có căn cơ” cũng không vì thế mà đã đi hết con đường.
Cho nên từ đó người viết đã không còn hỏi: “Mình có căn cơ hay không?”. Mà biết rằng : “Căn cơ không phải chiếc huy chương của quá khứ; nó là hạt giống được chứng minh bằng cách ta sống trong hiện tại”.
Căn cơ cũng không phải là tấm bằng, chứng nhận rằng ta “đã đặc biệt”, mà là “một mầm khả năng được thử thách và nuôi dưỡng qua đời sống”.
Vì sao vậy ? “Căn cơ” không nên hiểu như một cái nhãn cố định mà người ta được cấp sẵn từ quá khứ
– Căn cơ có thể là những khuynh hướng và điều kiện đã tích lũy.
– Tiệm tu là sự vun bồi trong hiện tại.
– Nghịch duyên là nơi kiểm nghiệm căn cơ ấy.
Và chính sự chuyển hóa mới là dấu hiệu đáng tin hơn lời tự nhận hay lời người khác gán cho mình. Bởi tri thức có thể nói rất hay về lòng từ, nhưng chỉ đời sống mới cho thấy lòng từ đã trở thành năng lực hay chưa.
Hoặc có thể “Hôm nay rất sáng; ngày mai vẫn có thể mê mờ.-Hôm nay có được bao dung; ngày mai vẫn có thể sân”.
Con đường tu vì thế không phải là giữ lấy một danh hiệu “người có căn cơ”, mà là tiếp tục làm cho hạt giống ấy trưởng thành qua từng duyên sống.
Vậy nên nếu may mắn đủ những điều ấy chúng ta biết rằng hạt giống đang nảy mầm, còn nếu chưa, thì hãy nguyện sẽ tiếp tục tưới tẩm lai mà không cần tự phong cho mình một căn cơ cũng như không cần vội chứng minh mình đã hiểu..
Như vậy để có được căn cơ (năng lực nhận thức và chứng ngộ) nhìn thấy và sống trọn vẹn với thực tại đó, một người cần hội tụ cả yếu tố tích lũy từ quá khứ (bản bẩm sinh) lẫn sự chuyển hóa ở hiện tại.
Căn cơ của một người phụ thuộc vào 4 yếu tố cốt lõi sau:
1. Huân tập chủng tử (Hạt giống từ quá khứ):
– Căn lành nhiều đời (Túc duyên): Căn cơ tốt không tự nhiên có mà là kết quả của việc gieo trồng hạt giống tỉnh thức qua nhiều kiếp sống.
– Sự nhạy cảm tâm linh: Một người có túc duyên khi nghe về Vô thường, Tánh Không hay Duyên khởi sẽ lập tức cảm thấy tương thích, thấu hiểu sâu sắc mà không cần tranh luận hay giải thích quá nhiều.
2. Định lực và Chánh niệm ở hiện tại:
– Ánh sáng Chánh niệm: Như cố Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng chia sẻ, hào quang của Như Lai chính là tuệ giác. Khi tâm trí bớt xao động (thất niệm), ánh sáng chánh niệm soi vào một chiếc lá hay một đám mây sẽ mở ra toàn bộ thế giới mầu nhiệm của Hoa Nghiêm.
– Tâm tĩnh lặng: Căn cơ được mài giũa khi tâm trí giảm bớt bản ngã (vô ngã). Tâm có định thì Tuệ mới phát sinh để nhìn xuyên qua lớp vỏ vật chất cô lập mà thấy được tính “tương nhập” của vạn vật.
3. Trải nghiệm nghịch cảnh và Khả năng tự soi rọi
– Biến cố làm chất xúc tác: Người có căn cơ sâu dày thường không đi qua một con đường quá bằng phẳng. Họ nếm trải thăng trầm, tổn thương để nhận ra tính chất Vô thường và Duyên sinh của cuộc đời.
– Năng lực chuyển hóa: Thay vì oán hận hay đổ lỗi cho bên ngoài, người có căn cơ tu tập chọn cách quay về bên trong (phản quan tự kỷ), nhìn nghịch cảnh như một vị thầy lớn để thức tỉnh.
4. Lòng đại bi (Tâm rộng mở)
– Xóa bỏ ranh giới: Nhìn thấy “tương nhiếp tương nhập” nghĩa là thấy nỗi đau của người khác cũng là nỗi đau của mình.
– Tình thương không điều kiện: Khi tâm từ bi trỗi dậy một cách tự nhiên, dung lượng trái tim mở rộng thì cái nhìn nhị nguyên (ta và người, đúng và sai) biến mất, nhường chỗ cho cái nhìn nhất thể.
Chính những yếu tố cốt lõi này đã giúp ta có một nhận định rõ ràng hơn về căn cơ khi muốn tiếp cận các bộ kinh như Hoa Nghiêm và Kim Cang .
Căn cơ vốn là một “hạt giống” từ quá khứ, nhưng sự tưới tẩm và tu sửa ở hiện tại mới quyết định hạt giống đó có nảy mầm thành tuệ nhãn hay không. Chỉ cần ngay trong phút giây này, bất cứ ai duy trì sự tỉnh thức khi đối diện với mọi duyên (thuận lẫn nghịch), căn cơ của người ấy đang tự động được nâng cấp.
Nếu nhìn theo tinh thần Đại thừa, căn cơ vừa có nền tảng, vừa được nuôi dưỡng và chuyển hóa ngay trong hiện tại. Cho nên với những kinh như Kim Cang hay Hoa Nghiêm, có lẽ phải cần một số năng lực nội tâm, và những năng lực ấy có thể được vun bồi bằng tiệm tu.
1. “Căn cơ” có thể ví như hạt giống, nhưng không phải số phận
– Một hạt giống có thể mang những khả năng khác nhau, nhưng:
– Hạt giống không tự quyết định mùa màng.
– Đất, nước, ánh sáng và cách người gieo chăm sóc cũng tham dự vào sự nảy mầm.
Trong Phật giáo, nghiệp quá khứ có thể tạo thành những khuynh hướng và điều kiện ban đầu; nhưng chánh niệm, giới, định, tuệ, thiện duyên và cách mình ứng xử với nghịch cảnh trong hiện tại lại tiếp tục tạo nghiệp và chuyển hóa tâm.
Ví dụ :
– Mỗi lần gặp một duyên khó chịu mà ta không lập tức phản ứng, một chút năng lực phân biệt được trưởng dưỡng.
– Mỗi lần được khen mà không vội phóng đại cái tôi, một chút vô ngã được trưởng dưỡng.- Mỗi lần thương người mà không biến lòng thương thành cứu vớt, Bồ-đề tâm trưởng dưỡng.
– Mỗi lần thấy một người khác biệt mà không cần bắt họ phải giống mình, trí tuệ Hoa Nghiêm bắt đầu có đất sống.
Đó chính là tiệm tu đang làm thay đổi căn cơ.
2. Kim Cang và Hoa Nghiêm cần những “căn cơ” nào?
– Khi nhìn vạn vật qua lăng kính Trùng trùng duyên khởi và Tương nhiếp tương nhập (Pháp giới duyên khởi của Kinh Hoa Nghiêm), bạn không còn thấy sự vật cô lập, mà thấy “một trong tất cả, tất cả trong một”, như mạng lưới bảo châu của Đế Thích phản chiếu lẫn nhau vô tận.
Nếu không nói theo kiểu phân hạng người tu, có khoảng năm năng lực cốt lõi.
– Một là khả năng nghi ngờ chính những điều mình tưởng đã biết.
Kim Cang rất mạnh ở điểm này. “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng.do đó người học cần bắt đầu nhìn thấy:“Điều tôi đang nghĩ là sự thật có thể chỉ là cách tâm tôi đang cấu trúc sự thật”.
.
– Hai là khả năng chịu được nghịch lý.
Kim Cang liên tục phá những chỗ bám:Có pháp mà không trụ vào pháp.
Có bố thí mà không trụ vào người bố thí, người nhận và vật bố thí.
Người học dần hiểu:; “không phải phủ nhận thế giới, mà là không biến những khái niệm về thế giới thành nhà tù của mình”.
– Ba là một cái tâm đủ rộng để Hoa Nghiêm có thể xuất hiện.
Hoa Nghiêm không chỉ nói:“Mọi sự vật liên hệ với nhau.”Mà sâu hơn:Ta nhìn một sự vật mà thấy được vô số duyên đang hiện diện trong nó. Đó là lúc “trùng trùng duyên khởi” bắt đầu từ kinh sách đi vào cái nhìn.
– Bốn là Bồ-đề tâm Đây là điều rất quan trọng.
Nếu chỉ có trí tuệ mà thiếu Bồ-đề tâm, việc học Kim Cang và Hoa Nghiêm rất dễ trở thành một cuộc chinh phục tri thức. Chúng ta biết nhiều hơn, phân tích sâu hơn, nhưng cái tôi học thuật cũng có thể lớn hơn.
Đây gần như là một nguyên tắc vệ sinh tâm linh khi học Đại thừa. Trí tuệ phải làm cái tôi nhẹ đi, chứ không làm cái tôi cao lên.
– Và thứ năm chính là tiệm tu.
Không cần chờ mình “đủ căn cơ” mới học Hoa Nghiêm.
Chính cách học và cách sống Hoa Nghiêm từng ngày lại đang làm căn cơ trưởng thành.
Căn cơ → học → quán → sống → gặp duyên → soi lại mình → chuyển hóa → căn cơ sâu hơn → học sâu hơn.
Mỗi ngày hiểu một chút, sống một chút, vấp một chút, soi lại một chút, rồi trở về với pháp.
Đó là thứ “căn cơ” mà Hoa Nghiêm cần.
Có lẽ đó cũng là lý do Hoa Nghiêm không nhất thiết đòi hỏi một người “căn cơ cao” để bắt đầu; nó đòi hỏi một người chịu sống đủ lâu với sự tỉnh thức để cái nhìn của mình dần trở nên Hoa Nghiêm.
Và hơn thế nữa để học Hoa Nghiêm, không nhất thiết phải có một “năng lực đặc biệt”, mà muốn hiểu Hoa Nghiêm bằng trí tuệ, cần học, – Muốn hiểu Hoa Nghiêm bằng đời sống, cần sống bằng những phẩm chất.
– Lòng hiếu kỳ và khiêm tốn: chấp nhận rằng thực tại rộng hơn cái ta đang biết.
– Khả năng nhìn nhiều chiều: một sự việc có thể có nhiều nhân duyên.
– Sự bao dung đi cùng phân biệt: thấy liên hệ nhưng không mất khả năng nhận định.
– Kiên nhẫn: Hoa Nghiêm giống một khu rừng lớn hơn là một con đường thẳng.
– Bồ-đề tâm: học không chỉ để hiểu, mà để sống sâu hơn và thương người hơn.
Lời kết :
Căn cơ không chỉ là hạt giống ta mang từ hôm qua; căn cơ còn là cách ta tưới hạt giống ấy trong từng cuộc gặp của hôm nay.
Tiệm tu không làm ta trở thành một người khác, mà làm cho con mắt nhìn người và nhìn đời ngày càng rộng hơn.
Có người đọc hàng nghìn trang vẫn thấy Hoa Nghiêm xa xôi. Có người, sau một chuyến đi, một lần chăm sóc người già, một lần mất mát, một lần tha thứ, bỗng hiểu được một chút: Ta ở trong người, người ở trong ta ân nghĩa và nhân duyên đan dệt thành đời sống.
Có lẽ đó cũng là một dạng “căn cơ” — không phải do hơn kém, mà do những duyên đã chín muồi.
Vậy nên dù chưa biết mình có đủ căn cơ chăng hãy cứ học Hoa Nghiêm để thấy một người trong vô số duyên .Cũng như hãy cứ học Kim Cang để thấy ngay cả cái người đang học ấy cũng không phải một cái “ta” độc lập.
Và cứ tiệm tu, chậm thôi, để một ngày nhìn lại mới chợt hiểu: “Căn cơ ta đi tìm suốt bao năm. Không nằm ở đâu xa cả — nó đang được gieo lại trong từng phút giây khi ta biết sống tỉnh thức”.
Bôn ba cứ mãi kiếm tìm
Căn cơ học đạo im lìm nơi nao
Hoa Nghiêm biển tuệ dạt dào
Kim Cang vô tướng rọi vào tâm không.
Bao năm hy vọng ngóng trông
Tưởng ghềnh thác hiểm, tưởng sông hải hà
Ngờ đâu tánh hiển ngay ta
Căn cơ chẳng ở phương xa đất trời.
Chính là trong mỗi phút đời
Lặng nhìn hơi thở, nụ cười an nhiên
Từng giây tỉnh thức hiện tiền
Là muôn hạt giống gieo miền chân như.
Không tìm quá khứ, trầm tư
Chẳng nương ngày tới, huyễn hư xa vời
Tâm dừng, định tuệ rạng ngời
Căn cơ vốn sẵn tuyệt vời từ đây.
Huệ Hương





Users Today : 102
This Month : 22494
Total Users : 637087
Views Today : 216
Total views : 3565402